Nhóm austenit hóa bền khi biến dạng
304 và 316 là các ví dụ phổ biến, và là nhóm thường được mô tả là dẻo dai, bết. Ở trạng thái ủ, chúng mềm và hóa bền biến dạng rất mạnh, nên lưỡi cắt mà miết thay vì cắt sẽ để lại bề mặt cứng hơn chính lớp nó vừa đi qua, và lực mài tăng dần theo đó.
Nhóm martensit đáp ứng nhiệt luyện
Nhóm này nằm ở phía ngược lại. Một mác 440C đã tôi hoặc tương đương tạo ra chi tiết cứng, chống mài mòn, hành xử tại vùng tiếp xúc giống thép khuôn đã tôi hơn là giống thép austenit.
Nhóm hóa già kết tủa đổi nhóm giữa quy trình
17-4 PH là ví dụ phổ biến. Ở trạng thái dung dịch hóa, nó cắt mềm và bết, gần giống thép austenit. Sau khi hóa già, nó hành xử như martensit cứng. Cùng một số hiệu chi tiết là hai bài toán mài khác nhau ở hai thời điểm khác nhau.
Điều một đề xuất thực sự cần
Con số mác thép không phải là dữ kiện quyết định. 304 và 316 cùng một nhóm và chia sẻ một kiểu hành vi; 17-4 PH nằm vắt qua hai nhóm. Điều một đề xuất đá mài cần là nhóm thép và trạng thái thực tế của chi tiết khi vào máy.


